Surrender

Đôi lúc tôi cứ phải tự nhắc mình, để khỏi miên man trong ý nghĩ về “cái thân phận khổ như con cún của mình“.
Cuộc sống cứ đẩy tôi vào những môi trường nơi mọi thứ cứ ngắc ngứ ở đâu đó. Ít có ngày nào mọi thứ chạy như nó cần chạy.
Giống như một công trường xây dựng khổng lồ, mọi thứ dang dở, mọi thứ đan xen, chỗ này đợi chỗ kia, chỗ kia bị chỗ khác cản trở,…

Có lẽ cuộc sống này chỉ muốn dạy tôi bài học duy nhất : Đầu hàng, surrender.

  • Chấp nhận mọi thứ như nó có.
  • Bình thản nhích từng bước. Dù có không nhích được vẫn cứ phải bình thản.
  • Không chờ đợi đòi hỏi ở người khác. Họ cũng đang tắc tị, hệt như cái xe ô tô đứng ngay trước mũi mình khi đường bị tắc.

Nhưng nhìn ra, môi trường đó lại cho phép tôi làm việc với nhiều người mà sự kiên nhẫn bình thản của họ giúp tôi nhìn ra cái sốt ruột của bản thân.

Tôi đã để lại đằng sau mình những con người làm việc trong một modus khác.
Vài người đã từng làm tôi sốt ruột vì cái vẻ thụ động lề mề.
1, 2 người đã từng làm tôi bực mình vì cái tính áp đặt, tự cho mình quyền can thiệp vào công việc của những người khác.
Đến một thời điểm, khi tôi đã chấp nhận mọi thứ đó, không còn bị ảnh hưởng nhiều bởi những thứ đó, thì lại không còn làm việc trực tiếp với họ, mặc dù vẫn trong team, vẫn có liên hệ qua lại.

Đôi lúc ngồi nhìn, thấy lại có ai đó đang vật lộn với mấy đống bùng nhùng mình đã từng trải qua, thấy ngồ ngộ.
Thông cảm với nỗi bức xúc của ai đó, và biết rồi người ta cũng sẽ học được cách surrender.

Vừa tra trong google, đầu hàng – surrender tiếng Anh là Hingabe tiếng Đức.
Heheh, giờ mới biết.
Eckhart Tolle nói nhiều về Hingabe trong quyển sách của ông, tôi cũng đã thấy nó gần với  surrender trong tiếng Anh, nhưng vẫn nghĩ có một từ khác chính xác hơn.
Hingabe có cái gì đó chủ động hơn –  chủ động thả tay, chủ động chấp nhận, chủ động để mình vượt lên trên không bị lôi xuống.

Đọc lại lần hai, Hingabe chỉ đúng trong trường hợp có chữ Chúa : surrender to God = Hingabe an Gott.
Thêm chỉ mỗi từ Chúa (God, Gott ) mà nghĩa trở nên rõ ràng hẳn.