Osho – sách về trẻ con – hãy là bản thân

không nhớ tôi tậu quyển này ở đâu, từ lúc nào. Tôi đã đọc nó một hai lần. Rồi nó nằm loăng quăng ở đâu đó trong nhà, và bỗng vài tháng nay nó nằm ở ngay đầu giường của tôi. Vậy là tối tối lại giở vài trang ra đọc. Cũng tốt, vì thời gian này tôi cũng hay suy nghĩ về sự phát triển và tâm lý của trẻ vị thành niên.

Quyển sách được dịch ra tiếng Đức với một hành văn rất rõ ràng trong sáng, dễ đọc dễ hiểu. Tôi nghĩ mình may mắn được đọc nhiều quyển sách bằng tiếng Đức, tuy là sách dịch nhưng vẫn chuyển tải được nội dung rất khúc triết và trung thực. Người dịch chắc cũng là những người hiểu chuyện.

Những mẩu đối thoại ngắn, nghe vừa lạ vừa quen. Tôi nghiệm thấy những người ở cùng tầm với nhau, họ nói giông giống nhau, trăm con đường đều đổ về Rom. Giờ tôi hơi bối rối khi nhớ lại một ý nào đó tôi đọc ở đâu, từ ai, từ Osho, từ Eckhart Tolle, từ Krisnamurtis, từ Kinh Thánh, hay từ một hai nguồn khác nữa.

Tôi cũng chẳng bận đầu chuyện đó lắm, tuy vậy thấy ngồ ngộ khi nghĩ tới các ông ấy mà thôi. Người ta nói văn phong phản ánh con người, có lẽ là đúng. Khi ta đọc văn của ai nhiều, đến lúc nào đó ta biết về tư tưởng người đó rõ ràng hơn, có gì đó thân quen. Cái thói quen bạ đâu đọc đó của tôi, rồi một quyển đọc đi đọc lại nhiều lần, năm này qua năm khác, hóa ra giờ mới có tác dụng. Những gì trước đây lẻ tẻ rời rạc, giờ lại như liên quan mật thiết, kết nối với nhau trong một bức tranh toàn cảnh rất sinh động, hài hòa.

Lúc nãy có đọc một câu hỏi „Vì sao tôi không thể tin cậy được ai“ (trang 385), Osho có trả lời đại ý:

Chỉ những người tin vào bản thân, mới có thể tin cậy người khác. Khi không tin vào bản thân mình, người ta cũng không thể tin cậy ai được. Các nhà tâm lý học đã thấy rằng, những người không có lòng tự tin thường có một vấn đề rất nặng nề với mẹ của người đó ở thời ấu thơ ….

Osho lấy làm lạ là sao không ai nghiên cứu về tâm lý của Charles Darwin, ông ấy có lẽ có quan hệ không tốt lắm với mẹ, khi đưa ra thuyết „cuộc sống này tiến hóa qua tranh đấu“. Còn Prinz Kropotkin thì lại đưa ra thuyết „cuộc sống này được tạo nên không phải thông qua tranh đấu, mà thông qua sự hợp tác“. Prinz Kropotkin chắc phải có một mối liên kết đầy tình thương yêu với mẹ của ông ấy…

Osho cho rằng nếu thấy mình thiếu sự tin tưởng vào người khác, nên tập ngồi yên, mỗi ngày 1 tiếng, và sống lại thời ấu thơ, càng rõ ràng, càng lùi sâu vào quá khứ, càng tốt. Những nút thắt sẽ dần dần được mở. Làm đều đặn hàng ngày, sau 3-6 tháng tâm lý sẽ trở lại hài hòa, rồi sự tin tưởng chân thành sẽ xuất hiện.

Heheh, hay đấy chứ. Đúng sai chưa biết, thấy hay hay. Lúc nào có hứng dịch tiếp. Dịch là công việc không đơn giản chút nào, nên tôi thật sự kính trọng những người theo nghề dịch.

Sát sao

Lại nói, riêng về chuyện cu Tí thì bố vẫn có vẻ sát sao. Có vẻ vì mẹ đã thả anh dần dần từ lớp 6, lớp 7 hầu như chỉ còn tí nhắc nhở, và lên lớp 8 thì mẹ quyết định để anh hoàn toàn quyết định dùng giờ giấc của anh như thế nào, chỉ hạn chế những hoạt động có hại cho sức khỏe của anh, như chơi quá nhiều trên tablet hay đọc quá khuya…

Bố thì lại ngược lại, khi mẹ bắt đầu thả là khi bố bắt đầu để ý chuyện học hành của anh. Với sự giúp đỡ của bố anh khá lên nhiều trong môn toán. Bố muốn giữ mức độ ấy của anh, nhưng anh thì lại thấy không cần phải khá đến như thế, vừa phải thôi, giữa giữa lớp là được rồi. Thành ra giữa hai bố con có một sự cò cưa của người muốn đẩy lên, người muốn trì xuống. Mẹ đã từng học với anh, mẹ rất hiểu cái trạng thái cò cưa này.

Vì mẹ đã dứt khoát trong tâm, nên đã chuẩn bị tinh thần cho trường hợp xấu nhất, cái tình hình có thể có tác dụng làm anh sáng mắt ra một tý và làm anh chủ động tự lo hơn một tý. Thành ra chuyện anh lông bông chẳng lúc nào thấy sờ đến sách vở không làm mẹ bận tâm nhiều. Bố thì khác, bố không buông được anh, thành ra bố lắm lúc sốt ruột, và lại hỏi han thúc giục.

Tôi ủng hộ bạn chồng thôi, và cũng phần nào hiểu sự sát sao của bố đã giải phóng mẹ khỏi phải thành bà la sát, heheh.

Tuy vậy tôi nghĩ trẻ con cần được tin cậy. Lớn lên trong nền giáo dục của Việt Nam, cả bạn chồng và tôi đều ít biết đến sự tôn trọng tin cậy khi còn là trẻ con, bởi vậy Tủm Tí cũng không được hưởng sự tôn trọng tin cậy đó từ khi còn nhỏ. Chỉ đến giờ đây, tôi mới ý thức được sự dậy dỗ của mình thiếu hẳn đi một mặt quan trọng  – sự tôn trọng vô điều kiện với trẻ nhỏ.

May mắn là Tủm Tí vẫn còn sống dưới cùng một mái nhà với bố mẹ, chúng tôi còn có chút cơ hội, tuy không còn nhiều – cơ hội tặng bọn trẻ con sự tôn trọng, sự tin cậy. Bố mẹ cần thời gian để học buông bỏ, trao phó, con cái cũng cần thời gian để học nhận trách nhiệm về mình, tự chịu trách nhiệm cho mình.

Để học sống với sự tin cậy, người ta cần rất nhiều thời gian, tính bằng năm, không phải bằng tháng. Sự tin cậy đem lại rất nhiều lợi ích cho con cái và cho bố mẹ, tôi tin chắc chuyện đó. Tin cậy và khuyến khích, thay vì sát sao và sát phạt. Sẽ có 1, 2 năm kết quả không tốt, thậm chí sát đáy, nhưng cái trẻ con học được là độc lập, biết tự lo cho mình, tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình.

Ở chỗ làm tôi hay nói chuyện với một số đồng nghiệp nam. Một trong số đó là product owner, người tôi đánh giá rất cao về khả năng chuyên môn, tầm nhìn, khả năng khái quát,…. Có lần tôi nói về kết quả học tập của Tí, ông ấy kể về quan hệ giữa ông ấy và ông bố. „Hồi nhỏ bố tao đòi hỏi nhiều ở tao lắm. Bỗng tới cuối lớp 7, ông ấy để cho tao hoàn toàn tự do, và lạ lùng là sau đó bỗng nhiên tao tự động lo chuyện học hành của bản thân. Tao đã rất hàm ơn về cách cư xử đó của bố tao. Con trai đôi khi cần sự tin cậy“… Ông ấy vừa nói chuyện vừa nhìn tôi với đôi mắt chăm chú như muốn truyền tải cái gì đó. Các bạn Đức ít khi khuyên bảo, các bạn ấy rất hay kể kinh nghiệm bản thân có liên quan đến đề tài bàn luận, để người nghe tự rút ra bài học.

Tôi quên không hỏi kết quả học tập của ông ấy sau khi được bố thả ra như thế nào, nhưng chắc cũng không tốt. Nhiều cậu thanh niên đến lớp 11 mới bắt đầu mài đũng quần, nhiều cậu sẽ không bao giờ mài đũng quần. Cũng không cần phải mài làm gì khi điều đó làm lũ trẻ khổ sở. Chúng có thể không mài mà vẫn có thể sống tốt bằng nhiều cách khác ? Liệu bố mẹ có đi theo mà dạy dỗ được đến khi chúng 18, 20? Và liệu chúng ta có quá vô minh không, khi ta cho rằng ta „dạy dỗ“ được chúng ở cái tuổi đó? Cò cưa căng thẳng thì đúng hơn, giữa người nói tiếng Thổ nhĩ kỳ và người nói tiếng Miến Điện.

Tôi không có ý định đó, tôi tin vào số phận của những đứa trẻ. Chúng là những cá nhân độc lập, đến thế giới này để tương tác với bố mẹ chúng, tôi tin chúng sẽ sống cuộc sống của chúng tốt hơn nhiều nếu ta để chúng có space, được sống con người thật của chúng thay vì sống cái mà ta áp đặt cho chúng bằng những mong muốn hoặc nói to ra, hoặc để thầm kín trong lòng.

Cuốn sách đầu giường của tôi hiện nay – cuốn về trẻ con của Osho – cũng hay kể nhiều chuyện về quan hệ giữa bố mẹ và con cái. Ông ấy đã có thời được nhiều người tây phương đi theo và xin lời khuyên. Cuốn sách là tập hợp những câu hỏi và câu trả lời. Ông ấy nói tình hình chung là các ông bố luôn muốn con trai lớn lên giống mình – „nhưng hãy thử nhìn lại xem, liệu anh có thật sự muốn con trai của anh lớn lên cũng bất hạnh giống anh?“. Câu trích dẫn chắc không thuyết phục lắm. Đôi khi ta phải đọc cả một quyển sách mới hiểu được tinh thần của một câu nói.

Tôi có hai người trẻ tuổi sống cùng nhà, nhưng tôi cũng có một bạn chồng cùng tuổi sống cùng nhà, và tôi muốn cả nhà vui vẻ. Heheh, hội trẻ tuổi gì thì gì chúng cũng sẽ chọn con đường sống vui vẻ, còn bạn chồng có chọn con đường đó hay không, lại là quyết định riêng của bạn ấy.

Con đường cò cưa, đem lại khá nhiều tóc bạc cho cả bạn ấy lẫn cho cả tôi. Của đáng tội, mỗi khi nhìn bạn ấy căng thẳng là tôi lại căng thẳng theo, nửa vì không biết cách nào làm bạn ấy buông bỏ cái lo xuống, cái lo mà hoặc người ta sẽ hạ xuống lúc nào đó, hoặc sẽ ôm khư khư không bao giờ hạ xuống, nửa vì muốn quát cái lũ tuổi trẻ trong nhà cho chúng điếc hết cả tai cho hả dạ, vì chúng dám nhơn nhơn sống theo ý mình, để cho ông già bực mình đau khổ.

Nghe ra, đợi lũ trẻ nó lớn đến tuổi để nó biết cách khôn khéo giải tỏa nỗi lo của mình, thì mình đã đi văn điển rồi, vẫn với cục lo ấy, khéo còn to hơn bây giờ, heheh.

Hochplatte

Cuối tháng 10, tiết trời chuyển lạnh. Nghe nói chủ nhật trời sẽ mưa, nên bố mẹ quyết định đi chơi thứ 7.

Tí muốn đi cùng nhưng không chắc chắn lắm sẽ đi lâu được do cái lưng vẫn chưa ổn định. Cậu đành ở nhà, có vẻ không vui lắm. Cậu hy vọng mấy tuần sau nữa cậu có thể đi. Mẹ thì không chắc lắm, nhưng cậu có mong muốn đi vậy là tốt rồi. Đến tuổi nào đó hy vọng cậu hiểu, nên làm ngay những gì vẫn có thể làm. Ai biết được chân ngày mai vẫn còn chắc, lưng ngày mai vẫn còn ổn, kể cả người trẻ tuổi, nên hôm nay làm được cái gì thì cứ làm đi.

Gần suốt đường đi mưa. Vì highway bị tắc nên chuyển sang đi đường làng. Lòng vòng nhìn ngắm làng xóm cây cối trong mưa. Lá đã chuyển sang màu nâu, khô rụng đầy dưới gốc. Chốc chốc lại có đám lá khô rời cành xoay tròn trên không trung, chao liệng vài vòng trước khi đáp đất. Cảnh vật trầm, không có nắng nên màu sắc không đẹp rực rỡ, tuy vậy lại gợi cảm giác thân thương.

Đến khu vực núi thì trời lại hửng. Bọn tôi giờ đi chơi như những người về hưu rộng dài ngày tháng, cứ cuối tuần là lên đường, đến nơi nếu nắng và khô thì đi, không thì ta lại về. Không phải băm bổ cố sức thực hiện gì. Tôi với bạn chồng sống với nhau nhiều nên tính dần dần giống nhau, điều đó làm cuộc sống thong dong nhẹ nhàng ít áp lực.

Riêng chuyện anh cu Tí bố vẫn có vẻ sát sao. Cái này kể chỗ khác không lại lạc đề.

Có cáp treo đưa lên độ cao 1000m, sau đó các con đường trên núi tỏa đi khắp nơi. Lên Hochplatte là 1580 m độ cao, đi rồi về khoảng 3 tiếng. Sang Kampenwand mất khoảng 6,7 tiếng. 

Rừng chuyển sang màu nâu, lá rơi kín đường đi.

Hai cây đứng sát nhau đúng chỗ rẽ như người quen cũ. Lá đã trút gần hết.

Khu này có khá nhiều cây lá kim rụng lá vào mùa đông.

Nhìn ra xa xa là núi Kampenwand, ngọn núi này cao và có hình thù đặc biệt nên có thể thấy từ khắp nơi trong khu vực Alpe. Từ chỗ này hoặc trèo tiếp lên đỉnh Hochplatte, hoặc đi đến quán ăn nằm cuối con đường. Năm trước bọn tôi đã trèo lên đỉnh núi, năm nay quyết định đi uống cafe.

Cafe nhạt nhờ nhờ như nước tráng bã. Tôi quyết định sẽ không bao giờ uống thứ cafe như vậy nữa. Phía sau bạn chồng là đỉnh núi Hochplatte, đường đi lên rất dốc, len giữa những cây thấp thấp. Trên đỉnh núi có một quyển sách lưu niệm, bọn tôi có viết 1,2 dòng trong đó, tháng 10 năm 2016. Lần đó đi có cả Tí.

Có cả nhà nghỉ cho khoảng 10 người, cách quán bọn tôi ngồi khoảng 200 m. 10 chỗ là không đủ cho cả hội vivu tính cả trẻ con. Nhưng lùa trẻ con lên đây chưa chắc đã hay, không có chỗ nào chơi ngoài đi trèo núi. Có lẽ sẽ chỉ rủ ban phụ huynh đi. Giữa mùa hè, ngủ đêm, sáng sớm dậy ra ngoài nhìn ngắm núi non, khoác thêm cái chăn cho ấm áp, rồi uống cốc cafe, oh la la…

Xuống núi.

Thay vì con đường rộng rãi bằng phẳng, bọn tôi đi xuống bằng đường nhỏ qua rừng. Khó đi hơn, dốc, nhiều đá và nhiều lá cây. Tuy vậy nếu có trẻ con, chúng sẽ thích những con đường này hơn.

Wendelstein

Chủ nhật tuần trước đi Wendelstein cùng vài gia đình trong hội vivu. Từ dưới lên đỉnh núi mất đúng 3 tiếng đi, không tính nghỉ. Đoạn dưới đi không dốc lắm, nhưng đến gần đỉnh thì rất dốc. Lúc đó mỏi chân là khá nguy hiểm, cần có gậy trợ giúp. Đi có nhiều bạn nhỏ thì không nên chọn con đường này.

Từ dưới nhìn lên.

Đoạn đường phía dưới đẹp, nhiều cây vàng ươm.

Chị đi cùng bố mẹ, mặc dù hai hôm trước đi nhảy đã rời hết cả chân.

Chị nhăm nhe cắt tóc, mẹ bảo thế thì ra tạo vài kiểu mẹ chụp trước khi cắt. Chị thường không thích ảnh mẹ chụp, nhưng đồng ý để mẹ up lên đâu thì up, miễn là chị không phải nhìn.

Có bạn chó gặp trên đường, có vẻ thích đi cùng cả hội.

Chú chó rất khôn, và hiền.

Càng lên trên càng mỏi, càng phải nghỉ nhiều. Phong cảnh rất đẹp, hùng vĩ. Rất nắng, không dễ có trong tháng mười.

Cứ đi và đi thôi, cho đến khi đến.

Hai mẹ con

Hai bố con

Trước lúc về. Ngồi bàn chuyện xã hội với các đấng nam nhi.

Trải nghiệm tâm linh (E.T.)

Bài này dịch cách đây 1 năm trên FB. Giờ copy lại.

Cái ý tưởng Khối đau có lẽ ông E.T. chiêm nghiệm từ bản thân mình. Trong cuốn sách đầu của mình, ở tựa đề ông có kể về một trải nghiệm ông đã trải qua.

Sách The power of now – Lời nói đầu
Cuốn sách này ra đời như thế nào – trang 15
Tôi ít khi hồi tưởng lại hay nghĩ về quá khứ, tuy vậy tôi muốn kể tóm tắt về việc vì sau tôi lại trở thành người thày về tâm linh và việc cuốn sách này ra đời như thế nào.
Cho tới năm 30 tuổi tôi luôn sống trong một cảm giác sợ hãi triền miên, xen lẫn với những khoảng thời gian trầm cảm. Giờ đây khi nói về điều này, tôi có cảm giác như tôi đang nói về một cuộc sống kiếp trước, hoặc cuộc sống của một người khác.

Một đêm, sau lần sinh nhật thứ 29 không xa, tôi tỉnh dậy vào sáng sớm với một cảm giác u ám tận cùng. Tôi thường tỉnh dậy với cảm giác u ám loại đó, nhưng lần này nó nặng nề hơn bao giờ hết. Cái tĩnh lặng của đêm, những đường nét mờ mờ của đồ đạc trong bóng tối, tiếng động xa xa vọng lại của chuyến tàu ngang qua – tất cả đối với tôi thật xa lạ, thù địch và vô nghĩa, làm tôi có một cảm giác ghê sợ đối với thế giới này. Mà cái ghê sợ nhất đối với tôi – lại chính là sự tồn tại của chính bản thân mình. Tồn tại tiếp tục với cái gánh nặng đau khổ này liệu có ý nghĩa gì ? Vì sao lại cứ phải tiếp tục cuộc đấu tranh mệt mỏi không ngừng nghỉ này ?

Tôi có thể cảm thấy cái mong mỏi thiết tha được biến mất khỏi thế giới này. Cái mong mỏi được không tồn tại mạnh mẽ hơn cái mong muốn bản năng được sống tiếp.

„Tôi không thể sống tiếp tục với bản thân tôi nữa“. Cái ý nghĩ đó vần vũ trong đầu tôi. Bỗng nhiên tôi nhận thấy cái ý nghĩ đó thật quái gở. „Tôi là một hay hai ? Nếu tôi không muốn sống với bản thân tôi nữa, thì phải có cái tôi thứ 2: Cái tôi, và cái bản thân – cái nhân vật mà tôi không muốn sống tiếp cùng nữa“. „Có lẽ“ , tôi nghĩ, „chỉ có một trong hai nhân vật đó là có thật“.

Tôi đã thật bối rối với cái nhận định đó, đến nỗi trí óc của tôi như bị tê liệt. Tôi đã ở trong một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, nơi không có một ý nghĩ nào khởi lên. Sau đó bỗng tôi cảm thấy mình bị cuốn vào một vùng năng lượng xoáy. Lúc đầu nó chuyển động chậm chạp, dần dần nó nhanh dần. Tôi bỗng thấy sợ hãi tột cùng, cơ thể tôi bắt đầu run rẩy. Như từ phía trong lồng ngực, tôi nghe có tiếng nói „Đừng chống lại“. Tôi có cảm giác như mình đang bị cuốn vào một vùng trống rỗng. Có vẻ như cái trống rỗng đó là trong tâm tôi, chứ không phải ở ngoài. Rồi đột nhiên không còn sự sợ hãi, tôi thả mình trôi vào vùng trống rỗng đó. Tôi không nhớ được cái gì xảy ra sau đó.
Tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng chim hót ngoài cửa sổ. Chưa bao giờ tôi nghe thấy một âm thanh nào tương tự như thế. Đôi mắt vẫn nhắm, và tôi nhìn thấy hình ảnh một viên kim cương. Vâng, nếu như kim cương có thể tạo nên tiếng động, thì tiếng động của nó chắc phải tương tự như vậy. Tôi mở mắt ra, những tia sáng ban mai đầu tiên rọi qua tấm mành cửa. Không một mảy may suy nghĩ, tôi cảm thấy, tôi biết, rằng trong tia sáng có nhiều thứ để chiêm nghiệm, hơn nhiều chúng ta tưởng. Cái tia sáng mảnh dẻ xuyên qua tấm mành đó, chính là Tình yêu. Nước mắt tràn lên mi. Tôi đứng dậy và đi vòng quanh căn phòng. Tôi nhận ra căn phòng, nhưng tôi biết tôi chưa bao giờ thực sự nhìn thấy nó. Tất cả mọi thứ thật tươi mát và tinh khôi, cứ như chúng vừa mới được tạo ra. Tôi cầm vài vật trong tay mình, một cái bút chì, một cái chai rỗng, sững sờ trước vẻ đẹp và sự sống động của chúng.
Vào ngày này tôi đi vào thành phố, vẫn sững sờ ngạc nhiên bởi vẻ tuyệt diệu của cuộc sống trên trái đất, cứ như thể là lần đầu tiên tôi bước vào thế giới này vậy.
Năm tháng liền tôi sống trong một tâm trạng an hòa sâu sắc và một niềm hạnh phúc thấm đẫm. Sau đó cảm giác đó bớt dần, hoặc nó có vẻ như thế, bởi tôi dần quen với trạng thái đó. Tôi lại có thể sống bình thường trở lại, mặc dù tôi ý thức được rõ ràng, bất cứ gì tôi làm đều không thêm chút nào vào cái cảm giác mà tôi đã trải qua.
Tất nhiên tôi biết, có gì đó rất quan trọng đã xảy ra với mình, nhưng tôi chưa hiểu. Chỉ vài năm sau đó khi đã đọc nhiều sách về tâm linh và học qua nhiều vị thầy, tôi mới biết, cái mà nhiều người đang tìm kiếm đã xảy ra với tôi.
Tôi hiểu ra, sự đau khổ nội tâm tột cùng trong cái đêm đó đã dồn cái tâm thức (Bewusstsein/awareness) vào chân tường, buộc nó buông bỏ cái bản ngã bất hạnh và đầy sợ sệt, cái bản ngã vốn chỉ là sự tưởng tượng của cái trí mà thôi. Sự buông bỏ này chắc phải xảy ra toàn diện tới mức cái bản ngã ngay lập tức bị co rúm lại, giống như quả bóng nhanh chóng xì hơi khi người ta rút cái nút ra. Cái còn lại chính là cái bản thể chân thật, cái tâm thức nguyên thủy luôn hiện diện ở thời điểm hiện tại, trước khi nó bị đồng hóa với Form.
Về sau tôi học được cách bước vào cái thế giới nội tâm này một cách hoàn toàn tỉnh thức, cái thế giới vĩnh hằng không có thời gian, mà trước đó tôi tưởng là trống rỗng.