Trong bữa ăn sáng hôm qua, anh Tí bảo rằng việc chia tay những người bạn thân thực ra cũng không khó lắm. Lúc đầu thì hơi nhớ, nhưng với thời gian mình sẽ thấy bình thường trở lại.
„Bình thường, không schlimm (kinh khủng lắm)“ – anh nói – „không nhất thiết phải bám víu, cứ buông ra (losslassen)“.
Nghe chữ losslassen từ anh, mẹ thấy quan tâm ghê lắm, giỏng hết cả 2 tai ra nghe ngóng.
„Như Tí với Tom ấy, không gặp nhau rồi thì thấy cũng bình thường“.
„Tí với Tom thân nhau lắm à ? Con đã từng nhớ bạn à? Bạn sang lớp 3 đã học ở chỗ khác rồi đúng không?“ Tôi hỏi nửa tò mò nửa thích thú. Nói về máy móc, cá, thể thao và những đồ có thể mua bán thì anh nhanh nhảu lắm, thao thao suốt ngày, nhưng rất ít khi nói về người này người kia, hay nói về cảm xúc.
„Ja, đi cùng nhà trẻ, mẫu giáo, và ở Hort hết cấp 1“, anh nói giọng tưng tửng nhưng có chút hoài cổ, điều rất ít có ở anh.
Cả nhà nói chuyện xoay quanh Tom.
Cậu bé có mái tóc vàng ươm, đôi mắt xanh hiền trông ngơ ngác. Cậu và anh sống một mình với mẹ. Tôi còn rất nhớ mẹ cậu, hiền, rất xinh, hay chuyện, có nụ cười tươi tắn. Tôi rất cảm tình với người phụ nữ nhỏ nhắn này, và đôi lúc tự hỏi không hiểu chuyện gì xảy ra với gia đình cậu, tại sao bố cậu lại bỏ đi. Người mẹ đôi lần đề cập đến chuyện gia đình, nhưng tôi chỉ nghe mà không hỏi. Mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người mỗi số phận, giải thích tìm hiểu sẽ cho một lý giải rất hời hợt và cũng chẳng để làm gì.
Hai cậu bé gặp nhau từ khi 1 tuổi, chúng cùng đi trẻ ở nhà bà Ebner – người trông trẻ. Hồi đó ở Garching chưa có Kindergrippe cho trẻ em dưới 3 tuổi.
Bà Ebner là một phụ nữ to béo. Giờ tôi không còn nhớ rõ khuôn mặt bà, tôi chỉ nhớ đường vào nhà bà. Dãy nhà bà ở gần chỗ nhà cũ của bọn tôi, trước mặt khoảng đất trống mà giờ người ta đã xây lên một khu nhà mới.
Nhà bà ở tầng 1, đi vào trong trông khá tối và hẹp. Hành lang cũng nhỏ, thông vào 3 phòng, phòng bếp, phòng khách và phòng trẻ con. Phòng trẻ con rất nhỏ, chắc chỉ khoảng 10 m², chật chội và ít ánh sáng. Bà trông 4 đứa trẻ, trong đó có Tí, Tôm và hai anh em một cậu bé cùng tuổi.
Phần lớn thời gian bọn trẻ con được đi ra ngoài chơi, mùa hè cũng như mùa đông. Chỉ đến trưa thì chúng được đưa về nhà, ăn rồi đi ngủ. Tôi đã vài lần bắt gặp bà đi cùng lũ trẻ con ở ngoài đường. Người bà to béo lắc lư đi trông rất vất vả. Cái xe nôi trẻ con có thể đẩy 2 đứa trông kềnh càng.
Hồi đó tôi không nghĩ nhiều, chỉ thấy bà ấy trông nhiều đứa vậy chắc rất mệt mỏi. Sau này tôi rất tôn trọng những người phụ nữ này, họ cố gắng không ăn bám xã hội, dùng thời gian và sức lực của mình trông trẻ, vừa để có thêm thu nhập, vừa giúp những người mẹ có thể tiếp tục đi làm.
Họ nằm trong hiệp hội những người trông trẻ, hiệp hội đó vừa tổ chức tạo điều kiện cho họ có công ăn việc làm, vừa quản lý bảo đảm họ có khả năng trông trẻ, vừa bảo vệ quyền lợi cho họ. Trình độ, điều kiện vật chất, sức khỏe của họ phải bảo đảm một điều kiện tối thiểu. Trông 4 đứa trẻ họ có thêm thu nhập khoảng 1400 Euro / tháng (năm 2005), không nhiều, nhưng cũng không ít.
Suốt thời gian Tí ở chỗ bà, tôi cứ ngày ngày đi làm từ sáng, chiều 2 giờ đón Tí. Hồi đó tôi đi làm 25 tiếng một tuần thì phải. Lương đã ít vì làm part time, riêng tiền gửi trẻ cho hai đứa đã chiếm hơn một nửa tiền cầm tay.
Tuy vậy nhiều bà mẹ vẫn chọn cách đi làm. Nhất là những người làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật, chỉ cần 2 năm ngồi nhà là mọi thứ thay đổi gần như hoàn toàn, rất khó để lại vào guồng làm việc được tiếp.
Những người phụ nữ nước ngoài may mắn có được công việc tàm tạm lại càng phải cố gắng quay trở lại công việc càng nhanh càng tốt. Nếu phụ nữ Đức có con nhỏ khó kiếm việc 1 phần, thì phụ nữ nước ngoài cùng điều kiện khó kiếm việc 2 phần. Họ phải gồng mình mà đi qua thời điểm đó, theo cách nói của Đức „Augen zu und durch“ – nhắm mắt lại và lao về phía trước.
Chế độ của Đức cũng có đôi điều bất cập. Gia đình nào cả hai cùng đi làm và có thu nhập tương đối, phải tự trả mọi thứ ở mức cao. Tiền gửi trẻ cũng vậy, những người mẹ ngồi nhà không có thu nhập, nhưng có nhiều thời gian và cùng theo đó là sức khỏe, chỉ phải trả khoản nhỏ. Những người mẹ phải chia năm sẻ bảy thời gian và sức lực của họ, để vừa đi làm vừa chăm gia đình, lại phải trả nhiều hơn để bù cho những khoản khỏ kia.
Hồi đó tôi thấy bất công lắm, cứ nghĩ chế độ thế thì chả ai muốn đi làm nữa, vừa mệt, vừa căng thẳng, con lại phải gửi người khác trông chẳng biết thế nào. Về sau này tôi thấy việc mình luôn trả tiền cho những gì mình nhận được, dù cao hơn mặt bằng một chút, là việc rất nên làm, khi có khả năng.
Nhận không của ai bất cứ cái gì, dù là của nhà nước, của cơ quan, của bố mẹ, của chồng con, của anh em, … đều là những khoản nợ mà bạn sẽ phải trả lại bằng một cái gì đó. Trong nhiều trường hợp, trả lại được bằng tiền là phương án dễ nhất.
Viết đến đây lại nhớ lại tôi nợ của cơ man người không biết đến bao giờ mới có thể trả, ngoài tiền ra tôi còn nợ họ những thứ khác, nợ họ thời gian, nợ họ sự chân tình, nợ họ sự giúp đỡ….
Ngồi viết đã hơn 1 tiếng, lại lan man lạc chủ đề chính, thôi để lần sau chỉnh/viết tiếp…